ATP Là Gì? Tập Thể Hình Cần Biết

4

Nguồn năng lương cung cấp cho sự co cơ là ATP (Andenozin Triphotphat). ATP là hợp chất giàu năng lượng. Khi phân hủy (thủy phân) ATP sẽ tạo ra ADP (Andenozin Diphotphat) và 1 nhóm photphat vô cơ đồng thời giải phóng 12Kcalo năng lượng tự do.

atp-la-gi

Dự trữ ATP trong 1 bó cơ không nhiều, để co cơ lâu dài ATP luôn phải được phục hồi đầy đủ. Năng lượng dùng để phục hồi ATP bằng cách phân giải nhiều chất khác nhau: tinh bột, protein, chất béo.

Trong cơ thể, ATP được tổng hợp bằng 2 con đường khác nhau:

– Không có sự tham gia của oxy gọi là quá trình yếm khí.

– Có sự tham gia của oxy gọi là quá trình hiếu khí.

Để tái tạo ATP có 3 hệ thống (hệ năng lượng) làm việc:

+ Hệ photphagen

+Hệ lactic

+ Hệ oxy

Trong đó hệ photphagen và hệ lactic là hệ yếm khí, hệ oxy là hệ hiếu khí.

Ba hệ trên khác nhau về:

+ Cơ chất: chất sinh ra năng lượng.

+ Dung lượng: là số lượng tối đa có thể cung cấp.

+ Công suất: là nguồn năng lượng tối đa có thể cung cấp trong 1 khoảng thời gian nhất định.

Mức độ tham gia của 3 hệ năng lượng trên phụ thuộc vào: công suất và thời gian co cơ, điều kiện hoạt động của cơ và mức độ cung cấp oxy choc ơ thể.

HỆ NĂNG LƯỢNG PHOTPHAGEN

Lượng ATP tiêu hao trong co cơ có thể tái tổng hợp nhờ vào creatine chứa trong cơ (creatine photphat) vì thế hệ năng lượng này còn có 1 tên gọi khác là ATP-CP. Chúng ta không đi sâu vào cách mà các hệ năng lượng thực hiện trong tế bào để cho bài viết đơn giản dễ hiểu hơn.

Photphagen là hệ năng lượng cung cấp nhanh nhất cho cơ thể. Nó được sử dụng trong giai đoạn đầu của các hoạt động cơ bắp. Hệ photphagen có công suất lớn nhất, gấp 3 lần hệ lactic, gấp 4 lần hệ oxy. Do đó, hệ Photpahgen có vai trò chủ yếu trong việc cung cấp năng lượng cho các hoạt động có công suất tối đa: chạy ngắn, ném, đẩy, nhảy … Việc cung cấp năng lượng bằng hệ này cực kì ngắn (không quá 12s) do đó đối với các hoạt động lâu hơn thì cần phải có sự tham gia của các hệ năng lượng khác.

HỆ LACTIC

Trong các hoạt động tương đối dài hơn thì cơ thể sử dụng năng lượng để tái tổng hợp ATP và CP bằng cách phân giải yếm khí đường glucose. Phản ứng sẽ sinh ra axit lactic gây độc hại mệt mỏi cơ. Do đó hệ năng lượng này có tên là hệ Lactic.

Cơ chất của hệ năng lượng này là glycogen dự trữ trong cơ, glucose trong máu chuyển vào cơ, và glucose từ gan vận chuyển vào máu.

Hệ năng lượng này có công suất nhỏ hơn hệ Photphagen (nhỏ hơn 3 lần hệ photphagen và lớn hơn 1.5 lần hệ oxy)

Trong hoạt động tối đa, sự phân giải glycogen yếm khí cũng chỉ xảy ra không quá 25% lượng glycogen dự trữ. Do vậy dung lượng của hệ năng lượng lactin cũng không lớn lắm.

Hệ năng lượng này bắt đầu hoạt động ngay từ lúc co cơ nhưng đạt công suất lớn nhất sau 30-40s. Do đó hệ lactic có vai trò quyết định trong việc cung cấp năng lượng cho các hoạt động kéo dài từ 20s đến vài phút.

Trong hoạt động của hệ lactic, lượng glycongen trong cơ và trong gan không bao giờ được sử dụng đến mức cạn kiệt. Năng lượng hệ lactic hạn chế không phải do trữ lượng glycogen ít mà là do axit lactic sinh ra đã ức chế các men phân giải glycogen.

HỆ NĂNG LƯỢNG OXY

Trong các hoạt động cơ bắp có công suất không lớn kéo dài và được cung cấp oxy đầy đủ, tức là trong hoạt động ưa khí, cơ thể sử dụng phản ứng oxy hóa các chất dinh dưỡng như: đường, protein và chất béo để cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động. Hệ năng lượng này được gọi là hệ oxy hóa.

Hệ năng lượng oxy hóa này sử dụng 2 chất chính đó là: đường và chất béo để cung cấp năng lượng cho hoạt động co cơ. Hai chất này khác nhau rõ rệt về công suất cũng như dung lượng.

Oxy hóa đường: xảy ra giống như thủy phân glucose trong hệ lactic. Do quá trình này có oxy nên axit lactic sinh ra sẽ tiếp tục bị oxy hóa thành CO2 và nước.

Dung lượng của hệ oxy hóa đường phụ thuộc vào trữ lượng glycogen ở cơ và gan và khả năng tái tạo glucose từ các chất khác (axit lactic, axit amin, axit pyruvic …) của gan với dung lượng lớn.

Trong khi đó sự phân giải ưa khí chất béo sẽ sinh ra nhiều năng lượng hơn oxy hóa đường. Do mỡ trong cơ thể có trữ lượng rất lớn (trung bình từ 10%-30% khối lượng cơ thể) đủ năng lượng cho cơ thể có thể hoạt động liên tục hàng chục ngày.

Tỷ lệ đường và mỡ bị oxy hóa bị phụ thuộc vào công suất của hoạt động ưa khí. Công suất càng lớn thì sẽ oxy hóa đường nhiều, công suất nhỏ thì sẽ oxy hóa mỡ nhiều.

Thời gian (giây) Phân loại hoạt động Năng lượng cung cấp do
1-5 Yếm khí ATP (dự trữ tại cơ bắp)
5-10 Yếm khí ATP + CP
10-45 Yếm khí ATP+CP+Glycogen
45-120 Yếm khí + Lactic Glycogen
120-240 Yếm khí + Hiếu khí GLycogen + Lactic
>240 Hiếu khí Glycogen + Chất béo

Duy Nguyen – Thehinhonline

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here